VỀ QUẢ CHUÔNG Ở CHÙA TỊNH LÂM, PHÙ CÁT, BÌNH ĐỊNH VÀ MỘT VÀI THÔNG TIN LIÊN QUAN - Hội Hướng Dẫn Viên Du Lịch

Hội Hướng Dẫn Viên Du Lịch

Bản tin hướng dẫn viên du lịch Việt Nam

Đặt Quảng Cáo

test banner

Post Top Ad

Responsive Ads Here

VỀ QUẢ CHUÔNG Ở CHÙA TỊNH LÂM, PHÙ CÁT, BÌNH ĐỊNH VÀ MỘT VÀI THÔNG TIN LIÊN QUAN

Share This
Tham luận này đã trình bày tại tiểu ban Khảo cổ học Lịch sử trong khuôn khổ Hội nghị thông báo Khảo cổ học 2018, diễn ra ở Huế chiều qua.
Tuy nhiên, vì "dân tình xiêu tán" ở nhiều tiểu ban khác nhau, nên có nhiều người chưa nghe và cứ hỏi nhà cháu là: "Mày/anh/em báo cáo cái gì đấy? Tiểu ban nào?"
Vậy nên nhà cháu post lên đây để ai quan tâm thì cùng đọc và cũng mong nhận được góp ý, trao đổi cho nó rôm rả cuộc chơi.
Rứa nghe!
NGƯỜI NƯỚC HUỆ (đang nghe mưa rơi xuống mái tồn muốn toát lỗ tai luôn. Nhà nghèo, lợp tồn, nên khổ rứa đọ)

VỀ QUẢ CHUÔNG Ở CHÙA TỊNH LÂM, PHÙ CÁT, BÌNH ĐỊNH VÀ MỘT VÀI THÔNG TIN LIÊN QUAN

Trần Đức Anh Sơn (Đà Nẵng) - Thích Quảng Dũng (Chùa Long Hoa, Bình Định)
Thêm chú thích
1. Tổ đình Tịnh Lâm
Đây là ngôi tổ đình của dòng Lâm Tế, một dòng Thiền của Phật giáo Việt Nam, ở Bình Định. Tổ đình nằm dưới chân núi Bà, một dãy núi cao và dài, với hơn 60 ngọn núi cao thấp khác nhau, nằm địa phận huyện Phù Cát, phía nam đầm Đạm Thủy, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 30 km về hướng bắc.
Ở sườn phía đông dãy núi Bà có nhiều ngôi chùa cổ nổi tiếng như: chùa Linh Phong và chùa Bảo Lâm (ở xã Cát Tiến), chùa Linh Thắng và chùa Thiên Bửu (ở xã Cát Hải), chùa Linh Sơn (ở xã Cát Nhơn), chùa Long Sơn và chùa Tịnh Lâm (ở xã Cát Hưng).
Do thời gian và sự tàn phá của chiến tranh, những ngôi cổ tự này đã bị hư hại nghiêm trọng, có nơi chỉ còn phế tích. Tổ đình Tịnh Lâm cũng bị bom đạn chiến tranh tàn phá nặng nề. Mãi đến những năm gần đây, Tổ đình Tịnh Lâm mới được trùng tu, nhưng vẫn giữ được cảnh sắc thiên nhiên và kiến trúc cổ xưa, và trở thành một danh lam ở huyện Phù Cát, được đông đảo Phật tử trong tỉnh và du khách trong nước thăm viếng, hành hương.1 (ảnh 1)
Nguyên thủy, Tổ đình Tịnh Lâm có tên là Châu Long tự. Hiện nay trong chánh điện của Tổ đình vẫn còn treo một bức hoành phi khắc nổi 3 chữ Hán: 珠龍寺 (Châu Long tự). Lạc khoản trên hoành phi ghi dòng chữ Hán: 明命玖年戊子孟春穀旦 (Minh Mạng cửu niên Mậu tí mạnh xuân cốc đán: Ngày tốt tháng Giêng năm Mậu tí, Minh Mạng năm thứ 9 - 1828). Tài liệu lịch sử lưu giữ trong chùa cho biết đây là bức hoành phi có từ triều Minh Mạng.
Năm Thành Thái thứ 10 (1898) chùa Châu Long được vua Thành Thái (1889 - 1907) ban cho tên mới là 敕賜靜林寺 (Sắc tứ Tịnh Lâm tự). Cũng vào năm này, bà Phan Thị Tí, mẹ vua Thành Thái đã cung tiến cho chùa quả chuông nặng 200 cân ta nói trên
2. Về quả chuông được cung tiến cho Tổ đình Tịnh Lâm
Đây là quả chuông mang phong cách đại hồng chung thời Nguyễn (1802 - 1945). Kiểu dáng và các chi tiết trang trí trên chuông tương tự như chuông ở các ngôi chùa Huế, với quai chuông hình con bồ lao hai đầu, thân chuông hình trụ tròn, đỉnh tròn, vành miệng loe đứng, có trang trí dải hồi văn vân kiên ở đỉnh chuông, và các hoa văn tản vân trang trí phía dưới các núm đánh chuông.
Thân chuông chia làm bốn ô, ở giữa khắc nổi bốn dòng chữ Hán theo kiểu triện thư và tám chữ Hán theo kiểu khải thư trong các ô hình chữ nhật uốn góc. Phía trên vành miệng có khắc nổi bốn chữ Hán theo kiểu khải thư trong bốn ô hình vuông. Bao quanh thân chuông là bài minh bằng chữ Hán khắc chìm, dài 218 chữ.
Văn tự trên chuông này đã được nhà nghiên cứu Đặng Quý Địch sao lục, phiên âm, dịch nghĩa, chú thích như sau:2
a. Bốn dòng triện thư khắc nổi ở chính giữa bốn ô trên thân chuông
皇圖鞏固 (Hoàng đồ củng cố: Đất nước của nhà vua được bền vững) (ảnh 2)
帝道遐昌 (Đế đạo hà xương: Đạo làm vua xương thịnh tận phương xa) (ảnh 3)
佛日增輝 (Phật nhật tăng huy: Ánh sáng đạo Phật ngày càng thêm sáng) (ảnh 4)
法輪常 轉 (Pháp luân thường chuyển: Bánh xe pháp luôn quay đều) (ảnh 5)
b. Tám chữ Hán khắc nỗi trong bốn ô hình chữ nhật uốn góc
恩頒敕賜靜林禪寺 (Ân ban sắc tứ Tịnh Lâm thiền tự: Ơn vua ban sắc cho chùa Phật giáo Thiền tông là Tịnh Lâm)
c. Bốn chữ trong bốn ô hình vuông ở trên vành miệng chuông
永發洪聲 (Vĩnh phát hồng thanh: Chuông mãi mãi phát ra tiếng lớn). Nghĩa bóng của dòng này là: Danh tiếng của ngôi tổ đình này sẽ lẫy lừng mãi mãi.
d. Bài minh khắc chìm trên chuông
Nguyên văn chữ Hán:
大南皇太后潘氏子、法名如澤、字美安、上案稽首頓首和南奏。3
南無十方諸佛證明。
窃念
長眠三界、皆由塵欲致心迷。今集善緣造化鍾聲超法界。願捨娑婆穢土、願生極樂净邦。願見慈父阿彌佗、願成無上菩提道。
次使
金鐘響撤、十方沙界共同聞。玉韻聲傳、一切眾生皆醒悟。
銘曰
匠傳鳧氏、銅出狃陽
篆雕獸舞、樂鑄蟲翔
珠林晝靜、銀界宵長
聲淒曉月、韻設秋霜
嗟哉五濁、憫矣千方
生浮業重、識妄情忙
榮衰相倚、哀樂斯傷
冀憑法響、喻彼慈航
幻念除滅、著相兼忘
枯卉再茁、洛木重蒼
蒙茸意葉、馥郁心香
皈依像教、頂禮空王
成泰十年孟夏吉日造
重鑄二百觔
Phiên âm:
Đại Nam hoàng thái hậu Phan Thị Tí, pháp danh Như Trạch, tự Mỹ An, thượng án khể thủ đốn thủ hòa nam thượng tấu.
Nam mô thập phương chư Phật chứng minh!
Thiết niệm
Trường miên tam giới, giai do trần dục trí tâm mê. Kim tập thiện duyên, tạo hóa chung thanh siêu pháp giới. Nguyện xả Sa bà uế thổ, nguyện sinh cực lạc tịnh bang. Nguyện kiến từ phụ A Di Đà, nguyện thành Vô thượng Bồ Đề đạo.
Thứ sử
Kim chung hưởng triệt, thập phương sa giới cộng đồng văn.
Ngọc vận thanh truyền, nhất thiết chúng sinh giai tỉnh ngộ.
Minh viết
Tượng truyền Phù thị Đồng xuất Nữu Dương
Triện điêu thú vũ Nhạc chú trùng tường
Châu lâm trú tĩnh Ngân giới tiêu trường
Thanh thê hiểu nguyệt Vận thiết thu sương
Ta tai ngũ trược Mẫn hĩ thiên phương
Sinh phù nghiệp trọng Thức vọng tình mang
Vinh suy tương ỷ Ai lạc tư thương
Ký bằng pháp hưởng Dụ bỉ từ hàng
Huyễn niệm trừ diệt Trước tướng kiêm vong
Khô hủy tái truất Lạc mộc trùng thương
Mông nhung ý diệp Phức úc tâm hương
Quy y Tượng giáo Đính lễ Không vương
Thành Thái thập niên mạnh hạ cát nhật tạo.
Trọng chú nhị bách cân
Dịch nghĩa:
Hoàng thái hậu nước Đại Nam là Phan Thị Tí, pháp danh Như Trạch, tự Mỹ An, bày hương án, kính cẩn dập đầu sát đất lạy dâng lời khấn rằng:
Nam mô thập phương chư Phật chứng minh!
Trộm nghĩ
Ba cõi4 đắm sau hoài, do bởi tâm mê nên trí muội
Duyên lành nay gặp được, nhờ nơi chuông gióng vượt trần ai
Nguyền bỏ Sa bà5 đất bẩn
Nguyền sanh cực lạc nước yên
Nguyền gặp từ phụ A Di Đà6
Nguyền thành vô thượng Bồ Đề đạo7
Khiến nên
Chuông vàng vang khắp mười phương Sa giới8 thảy đều nghe
Vần ngọc tiếng truyền, nhất thiết chúng sinh đều tỉnh ngộ
Minh rằng
Họ Phù9 thợ đúc Nữu Dương10 sản đồng
Triện chạm thú múa11 Nhạc đúc sâu bay12
Rừng ngọc ngày vắng Cõi bạc đêm dài
Tiếng lạnh trăng sớm13 Vần sắc sương thu14
Than ôi ngũ trược15 Thương xót ngàn phương
Sống tạm nghiệp nặng Thức16 bậc tình nhiều
Vinh suy cùng dựa Buồn vui theo nhau
Muốn nhờ pháp hưởng Có bè từ đây
Huyễn niệm17 trừ sạch Trước tướng18 điều tiêu
Cây khô nảy đọt Cây úa lại xanh
Mầm non lá mới Thơm ngát hương lòng
Quy y Tượng giáo19 Đảnh lễ Không vương20
Thành Thái năm thứ 10 (1898), tháng Tư ngày tốt tạo chuông.
Nặng 200 cân.21
3. Thông tin về quả chuông, người cung tiến quả chuông và người ban biển ngạch đổi tên chùa
Trong chuyến điền dã chùa này vào cuối tháng 4.2018, chúng tôi được thầy Thích Nhuận Quý, trú trì Tổ đình Tịnh Lâm hướng dẫn thăm chùa và giới thiệu một số pháp khí, tranh tượng, cổ vật… đang thờ tự và bài trí trong Tổ đình Tịnh Lâm. Trong đó có quả chuông này. Lúc trà đàm sau khi tham quan vãn cảnh chùa, thầy Nhuận Quý đề nghị chúng tôi tìm hiểu giúp những thông tin liên quan về quả chuông. Cụ thể:
1. Tìm hiểu lai lịch chiếc chuông và thân thế của bà Phan Thị Tí, tức Từ Minh hoàng thái hậu, mẹ vua Thành Thái, là người đã cung tiến chiếc chuông này cho chùa.
2. Tương truyền, vua Thành Thái bị bệnh tâm thần và được Hòa thượng Từ Mẫn, trú trì Tổ đình Tịnh Lâm lúc bấy giờ, chữa cho khỏi bệnh nên vậy, mẹ của vua là bà Từ Minh hoàng thái hậu đã cho đúc quả chuông này để cung tiến cho Tổ đình Tịnh Lâm để tạ ơn. Vậy vua Thành Thái có bị tâm thần hay không? Nếu có thì đó là khi nào?
Thầy Nhuận Quý có trao cho chúng tôi một bản photocopy các chữ Hán khắc trên quả chuông, do nhà nghiên cứu Đặng Quý Địch sao lục, phiên âm và dịch chú. Thầy Nhuận Quý cho biết đây là tài liệu photocopy từ bản chép tay, có nhiều chữ Hán viết chưa rõ, phiên âm và dịch chú chưa chuẩn xác, nên đề nghị chúng tôi bổ chú, hiệu đính.
Dưới đây là những thông tin về quả chuông trên mà chúng tôi đã tìm hiểu được.
3a. Về người cung tiến quả chuông cho Tổ đình Tịnh Lâm
Lạc khoản khắc trên chuông cho biết người cung tiến quả chuông này là Đại Nam hoàng thái hậu Phan Thị Tí, pháp danh Như Trạch, tự Mỹ An. Dưới đây là thông tin về bà theo các nguồn tư liệu từ thời Nguyễn:
Phan Thị Tí (1855 - 1906) là nhũ danh của bà Phan Thị Điều, tức Từ Minh hoàng thái hậu. Bà là con gái của Phù Quốc công Phan Đình Bình, một đại thần của triều Nguyễn, quê ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên Huế).
Phan Thị Điều là chánh cung của ông hoàng Nguyễn Phúc Ưng Chân (sinh năm 1853, mất năm 1884), thân phụ của vua Thành Thái.22 Ưng Chân là con trai thứ 2 của Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hường Y (hoàng tử thứ 4 của vua Thiệu Trị, bào đệ của vua Tự Đức). Thuở nhỏ, ông có tên là Ưng Ái, đến năm 17 tuổi, ông được vua Tự Đức chọn làm dưỡng tử (con nuôi) và đổi tên thành Ưng Chân. Năm 1883, ông được phong là Thụy Quốc công. Tháng 6 năm đó, vua Tự Đức đau nặng, cho triệu quần thần ban di chiếu truyền ngôi cho Thụy Quốc công Nguyễn Phúc Ưng Chân.
Sau khi vua Tự Đức thăng hà, ông hoàng Ưng Chân được đưa lên ngai vàng. Tuy nhiên, ông chỉ giữ ngôi được ba ngày, chưa kịp làm lễ đăng cơ, thì bị phế truất bởi phe chủ chiến trong triều đình Huế. Do chưa kịp đặt niên hiệu, nên sử cũ và dân gian vẫn thường gọi ông là vua Dục Đức, theo tên Dục Đức đường, là nơi mà ông tá túc lúc sinh thời.23
Năm 1889, vua Đồng Khánh (1885 - 1889) thăng hà, con trai của vua Dục Đức là Nguyễn Phúc Bửu Lân được đưa lên ngai vàng, lấy niên hiệu là Thành Thái. Sau khi vua Thành Thái lên ngôi, bà Phan Thị Điều được đình thần rước về sống trong cung, được tấn tôn là Cung Tôn Huệ hoàng hậu. Đến năm 1892, bà được vua Thành Thái tấn tôn là Hiếu Minh Huệ hoàng hậu, sau đó lại tấn tôn là Từ Minh hoàng thái hậu. Bà mất ngày 12 tháng 11 năm Bính ngọ (27.12.1906), thọ 52 tuổi, an táng tại An Lăng, bên cạnh mộ vua Dục Đức.
Chuông được đúc và cung tiến cho chùa vào năm 1898, cũng là năm vua Thành Thái ban cho chùa Châu Long tên mới là Sắc tứ Tịnh Lâm tự.
3b. Về bệnh tâm thần của vua Thành Thái
Theo thông tin do thầy Nhuận Quý cung cấp, Từ Minh hoàng thái hậu đã cho đúc quả chuông và cung tiến cho cho chùa để cảm tạ sư trú trì chùa Châu Long đương thời là Hòa thượng Từ Mẫn, đã chữa lành bệnh tâm thần cho vua Thành Thái. Vậy có chuyện vua Thành Thái bị tâm thần hay không và đó là khoảng thời gian nào?
Vua Thành Thái tên là Nguyễn Phúc Bửu Lân, sinh ngày 22 tháng Hai năm Kỷ mão (14.3.1879), là con thứ 7 của vua Dục Đức với bà Phan Thị Điều. Lúc lên ngôi, ông chọn chữ thứ 7 trong kim sách, thuộc bộ 日 (nhật), là chữ 昭 (Chiêu) để làm tên.24
Khi vua Dục Đức bị quyền thần phế truất vào năm 1883, hoàng tử Bửu Lân bị giam chung với vua cha tại Giảng đường ở Thái Y viện. Sau khi vua Dục Đức mất (1884), ông theo mẹ về ở quê ngoại tại làng Phú Lương (huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên). Năm 1888, ông ngoại của ông là đại thần Phan Đình Bình bị phạt tội, ông lại theo mẹ đến ở tại nhà Trấn vũ ở phía đông Kinh Thành Huế.
Tháng 1.1889, vua Đồng Khánh thăng hà, với sự đồng ý của bà Từ Dũ (mẹ vua Tự Đức) và Khâm sứ Trung Kỳ là Rheinart, đình thần triều Nguyễn đưa Nguyễn Phúc Bửu Lân lên ngai vàng. Ông chọn niên hiệu là Thành Thái, trị vì từ năm 1889 đến năm 1907.
Theo sách Nguyễn Phúc tộc thế phả do Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc biên soạn, thì “Ngài vốn thông minh nhưng tính khí bất thường, ham chơi bời, ít chịu nghe lời can gián, nhiều đêm ngài cỡi ngựa ra chơi ngoài Kinh Thành chẳng ai ngăn cản được. Vì tính khí và hành vi của ngài, nên đến tháng 3 năm Quý tị (1893), các quan phụ chính phải tâu lên Lưỡng cung để đưa ngài ra an dưỡng tâm thần tại cung Bồng Dinh ở hồ Tịnh Tâm”.25 Cũng theo sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, thì sau khi các vị phụ chính cáo lão về hưu, vua Thành Thái được thoát khỏi sự cương tỏa của họ nên hành vi của ông ngày càng thái quá và tỏ ý chống đối người Pháp ra mặt.
Vì thế, đến năm 1907, dưới áp lực của Khâm sứ Pháp, triều đình Huế cho rằng vua Thành Thái bị bệnh tâm thần, không thể điều hành chính sự, nên phụng mệnh Lưỡng cung, bắt ngài phải thoái vị, nhường ngôi cho con trai mới 7 tuổi là Nguyễn Phúc Vĩnh San (tức là vua Duy Tân).
Vua Thành Thái bị người Pháp đưa đi an trí ở Vũng Tàu, đến năm 1916, sau khi vua Duy Tân, tham gia vào cuộc khởi nghĩa Trung Kỳ do Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh đạo, người Pháp bắt cả hai cha con nhà vua - Thành Thái và Duy Tân - đưa đi đày ở đảo Réunion, một thuộc địa của Pháp ở châu Phi. Năm 1947, vua Thành Thái được phép trở về sống ở Sài Gòn cho đến khi qua đời vào ngày 9.3.1955. Lăng mộ của vua được an táng cạnh An Lăng (nơi an táng vua Dục Đức và Từ Minh hoàng thái hậu) ở làng An Cựu huyện Hương Thủy26 (nay là phường An Cựu, thành phố Huế), tỉnh Thừa Thiên Huế.
Trong khi đó, nhiều giai thoại lưu truyền ở Huế thì cho rằng, vua Thành Thái không hề bị điên, mà do có ý thức kháng Pháp và những người thân Pháp trong triều đình, ông đã chiêu tập một đội nữ binh, bí mật tổ chức huấn luyện võ thuật cho họ ở bên ngoài Kinh Thành, để chuẩn bị cho hoạt động kháng Pháp khi có thời cơ. Việc làm của ông đã không qua được mắt của người Pháp và tai mắt của họ ở trong triều đình Huế. Vì thế, người Pháp đã ép vua Thành Thái, thông qua đình thần và Lưỡng cung, phải thoái vị.
Tuy nhiên, từ những thông tin về tính khí của nhà vua được công bố trong sách Nguyễn Phúc tộc thế phả do chính dòng họ Nguyễn Phúc biên soạn và từ mối quan hệ giữa Từ Minh hoàng thái hậu và vua với các vị hòa thượng, tăng cang xuất thân từ chùa Châu Long như: Từ Mẫn, Phước Huệ, Phổ Huệ…, tôi tin rằng việc vua Thành Thái bị ép đi chữa bệnh là có thật và Hòa thượng Từ Mẫn là người đã chữa bệnh cho vua, trong khoảng thời gian sau năm 1893.
Tại chùa Thập Tháp Di Đà (ở phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), trong chánh điện có treo bức hoành phi đề ba chữ 大雄殿 (Đại Hùng điện). Lạc khoản trên hoành phi ghi: 成泰玖年正月吉日[Thành Thái cửu niên chính nguyệt cát nhật: Thành Thái năm thứ 9 (1897) ngày tốt tháng Giêng] (ảnh 6).
Chùa Thập Tháp Di Đà là nơi tu hành của sư Phước Huệ, người sau này đã được vua Thành Thái ban tước Quốc sư. Chùa này được vua Thành Thái ban cho biển ngạch trước chùa Châu Long một năm. Hòa thượng Từ Mẫn cùng hai đệ tử của ông là Quốc sư Phước Huệ và Pháp sư Phổ Huệ đều được vua Thành Thái mời ra ra kinh đô Huế để thuyết giảng Phật pháp cho vua, hoàng thái hậu, vương phi, công chúa và các tôn thất trong hoàng gia cùng triều thần trong thời gian ông nắm quyền.27 Năm 1906, vua Thành Thái còn phong chức Tăng cang cho Thiền sư Phước Huệ và Từ Minh hoàng thái hậu đã thỉnh Hòa thượng Phước Huệ về trú trì chùa Kim Quang ở cạnh An Lăng, nơi an nghỉ của vua Dục Đức và cũng là nơi Từ Minh hoàng thái hậu được an táng sau này.28
Từ đó, có thể đoán định rằng, vua Thành Thái, Từ Minh hoàng thái hậu và các vị sư: Từ Mẫn, Phước Huệ, Phổ Huệ đã có mối ân nghĩa từ lâu. Vì thế, vua Thành Thái mới ban biển ngạch cho chùa Thập Tháp Di Đà (1897) và chùa Châu Long (1898) và mẹ của vua là Từ Minh hoàng thái hậu đã cho đúc và cung tiến cho Tổ đình Tịnh Lâm quả chuông nói trên nhân sự kiện chùa được vua Thành Thái ban biển ngạch đổi tên từ Châu Long tự thành Sắc tứ Tịnh Lâm tự.
Ngoài ra, nội dung văn tự khắc trên chuông này không thuần Phật hoàn toàn như những minh văn thường thấy trên chuông chùa, mà còn phản ánh biểu tượng và khát vọng của vương quyền (Hoàng đồ củng cố: đất nước của nhà vua được bền vững, Đế đạo hà xương: đạo làm vua xương thịnh tận phương xa); thể hiện cảm xúc riêng tư (Khô hủy tái truất, lạc mộc trùng thương, mông nhung ý diệp, phức úc tâm hương: Cây khô nảy đọt, cây úa lại xanh, mầm non lá mới, thơm ngát hương lòng); rồi mới dẫn đến việc quy y Phật giáo (Quy y Tượng giáo. Đính lễ Không vương: Quy y đức Phật và đảnh lễ kính Phật). Những văn tự nói trên cho phép phỏng đoán rằng Từ Minh hoàng thái hậu đã cho đúc chuông này để tạ ân Hòa thượng Từ Mẫn đã chữa lành bệnh cho nhà vua và cầu giang sơn xã tắc được bền vững, ân đức của vua được lan tỏa sâu rộng.
Trên đây là những thông tin về quả chuông ở Tổ đình Tịnh Lâm và những thông tin liên quan đến người cung tiến quả chuông và người ban biển ngạch đổi tên chùa từ Châu Long sang Tịnh Lâm vào năm 1898 mà chúng tôi tìm hiểu được.
Trân trọng giới thiệu
T.Đ.A.S. - T.Q.D.
---------
Chú thích
1. Theo: “Cảnh chùa Tịnh Lâm”, http://phucat.binhdinh.gov.vn. Truy cập ngày 28/6/2018.
2. Thầy Thích Tịnh Quý đã cung cấp cho chúng tôi bản photocopy phần sao lục, phiên âm, dịch nghĩa, chú thích các Hán tự khắc trên chiếc chuông do nhà nghiên cứu Đặng Quý Địch thực hiện. Chúng tôi đã đánh máy lại toàn bộ văn bản photocopy này để đưa vào bài viết và trình bày theo hàng ngang từ trái sang phải, thay vì trình bày theo hàng dọc từ phải sang trái như trong văn bản mà Đặng Quí Địch đã sao lục. Chúng tôi cũng chỉnh sửa vài chỗ phiên âm cho chuẩn xác hơn và dịch lại một vài câu chữ cho rõ nghĩa hơn.
3. Các dấu ngắt câu: 、,。 là do chúng tôi thêm vào. Chúng tôi cũng ngắt câu và trình bày bài minh dựa theo các dấu ngắt câu này mà không tuân theo nguyên tác khắc trên chuông, để người đọc dễ nhận biết và hiểu rõ hơn nội dung bài minh.
4. Ba cõi là: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Chúng sinh ở ba cõi này luôn lăn lộn trong vòng luân hồi sinh tử.
5. Chung quanh Tu Di Sơn có bốn châu là: Đông Thắng Thần, Tây Ngưu Hóa, Bắc Cự Lô và Nam Thiệm Bộ, hợp thành thế giới Sa bà. Châu Nam Thiệm Bộ còn gọi là Diêm Phù Đề, tức địa cầu mà loài người đang sống.
6. Phiên âm tiếng Phạn Amitaba, tên hiệu vị Phật ở nước Cực lạc, làm giáo chủ phương tây.
7. Phiên âm tiếng Phạn Bodhi có nghĩa là “hiểu biết chân chính”.
8. Tức Sa bà thế giới.
9. Họ người thợ đúc đồng đầu tiên, chưa rõ tích.
10. Nơi sản xuất đồng, chưa rõ ở đâu.
11. Chữ triện chạm nét ngoằn ngoèo giống hình thú vật múa men.
12. Trong tiếng chuông có tiếng nhạc giống tiếng bầy côn trùng bay phát ra.
13. Tiếng chuông nghe lạnh lẽo như khí trời lúc trăng sắp tàn, ngày sắp rạng.
14. Tiếng chuông nghe sắc bén như sương mùa thu làm tê buốt da thịt.
15. Tức ngũ trược ác thế, tỏ thế giới Sa bà ác lụy chẩn đoán năm thứ trược (trọc) là: kiếp trược, kiến trước, phiền não trược, chúng sanh trược và mạng trược.
16. Đây nói đến năm thức đầu tiên là: nhã thức (thấy biết), nhĩ thức (nghe biết), tỉ thức (ngửi biết), thiệt thức (nếm biết) và ý thức (xét biết)
17. Ý niệm không thực.
18. Cái tướng do chấp trước, chứ không thực có.
19. Phật giáo tương tự như lúc Phật còn tại thế.
20. Vị vua của đạo Không, chỉ đức Phật.
21. Chuông nặng 200 cân ta, tương đương 119,36 kg.
22, 23, 24, 25 và 26. Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nguyễn Phúc tộc thế phả, (Huế: Thuận Hóa, 1995), 372, 371-372, 391, 392, 392.
22, 23, 24, 25 26. Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nguyễn Phúc tộc thế phả, (Huế: Thuận Hóa, 1995), 372, 371-372, 391, 392, 392.
Ảnh 1: Hoành phi 珠龍寺 (Châu Long tự) treo tại chính điện chùa Tịnh Lâm. Lạc khoản trên hoành phi ghi dòng chữ Hán: 明命玖年戊子孟春穀旦 (Minh Mạng cửu niên Mậu tí mạnh xuân cốc đán: Ngày tốt tháng Giêng năm Mậu tí, Minh Mạng năm thứ 9 - 1828).

Ảnh 2: Bốn chữ Hán 皇圖鞏固 (Hoàng đồ củng cố: Đất nước của nhà vua được bền vững) trên thân chuông.

Ảnh 3: Bốn chữ Hán 帝道遐昌 (Đế đạo hà xương: Đạo làm vua xương thịnh tận phương xa) trên thân chuông.
Ảnh 4: Bốn chữ Hán 佛日增輝 (Phật nhật tăng huy: Ánh sáng đạo Phật ngày càng thêm sáng) trên thân chuông.

Ảnh 5: Bốn chữ Hán 法輪常 轉 (Pháp luân thường chuyển: Bánh xe pháp luôn quay đều) trên thân chuông.

Ảnh 6: Bức hoành phi đề ba chữ 大雄殿 (Đại Hùng điện). Lạc khoản trên hoành phi ghi: 成泰玖年正月吉日[Thành Thái cửu niên chính nguyệt cát nhật: Thành Thái năm thứ 9 (1897) ngày tốt tháng Giêng] treo tại chùa Thập Tháp Di Đà (ở phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Post Bottom Ad

Responsive Ads Here

Pages