LỊCH SỬ CHĂMPA - Hội Hướng Dẫn Viên Du Lịch

Hội Hướng Dẫn Viên Du Lịch

Bản tin hướng dẫn viên du lịch Việt Nam

Đặt Quảng Cáo

test banner

Post Top Ad

Responsive Ads Here

Chương 1: Vương quốc cổ Champa từ khi hình thành đến cuối thế kỉ X.

1.1 Vị trí địa lí, dân cư, ngữ hệ và văn hóa cơ sở.
1.1.1 Vị trí địa lí.
Nếu nhìn một cách tổng thể xuyên suốt quá trình lịch sử của Champa từ khi hình thành đến kết thúc thì cương vực và vị trí của nó có hơi phức tạp, mà nguyên nhân lớn nhất dẫn đến việc đó chính là bị xâm chiếm cùng với sự suy yếu bắt nguồn từ kinh tế.
Nhưng trước tiên hãy khái quát lại vị trí địa lí, “vương quốc Champa hình thành và phát triển trên dãi đất miền Trung Việt Nam và một phần cao nguyên Trường Sơn, lúc mạnh nhất trải dài từ Hoành Sơn, sông Gianh ở phía bắc đến sông Dinh – Hàm Tân, ở phía nam đến lưu vực Krong Pôcô và sông Đà Rằng trên Tây Nguyên.”[1]. Đó là cương vực trên đất liền, ngoài ra họ gần như làm chủ toàn bộ các đảo ven bờ và vùng ven biển Đông.
Nhưng trong những thời kì nhất định cương vực Champa có sự thay đổi rõ rệt, tùy lúc mạnh yếu mà mở rộng hay thu hẹp, nhưng chủ yếu là về phíaBắc và phía Tây. Có thể nói cương vực Champa đi đôi với sự phát triển hay dần dần suy tàn của nó. Cụ thể về sự thay đổi cương vực những lần lớn nhất là vào thế kỉ X đến cuối thế kỉ XV. Đó là vào năm 1069, vua Rudravarman nhượng châu Bố Chính, Địa Lí và Ma Linh để chuộc tự do cho mình sau một lần Đại Việt đánh Champa. Như vậy, lúc này lãnh thổ Champa chỉ còn từ phía nam Quảng Trị trở xuống. Lần thay đổi lớn thứ hai về cương vực có lẽ là vào năm 1471, chính là lúc vai trò lịch sử của vương quốc này mất dần. Sauk hi đánh bại vương triều Vijaya, cương vực Champa chỉ còn phần đất Phú Yên – Khánh Hòa và Ninh Thuận – Bình Thuận. Và những vùng đất này cũng là nơi dân cư Champa – người Chăm trú ngụ đông đảo đến ngày nay.
Tóm lại cương vực Champa cũng như lịch sử của nó rất phức tạp nhưng chủ yếu sự thay đổi đó luôn gắn liền với những lần suy yếu và bị đánh chiếm, lúc hùng mạnh thì mở rộng ra chủ yếu là phía Tây, nhưng có lẽ phần đất bị mất là nhiều hơn cả, đó là hệ quả của sức ép từ phía Bắc cũng như phía Tây và Nam.
1.1.2 Cư dân, ngữ hệ.
Nhiều người nghĩ rằng ngay từ đầu người Chăm đã là những người sinh sống trên vùng đất thuộc lãnh thổ Champa sau này nhưng sự thật đấy chỉ là một bộ phận của nhóm ngữ hệ Malayo – Polynesien. Những người này sống nhiều ở các đảo tây nam Thái Bình Dương, tây nam Ấn Độ và được gọi với cái tên Orang Laut – người biển. Nhưng họ không phải hoàn toàn là người bản địa, mà chỉ là một thành phần cộng cư sau khi di chuyển và giao lưu với những người cao nguyên bản địa. Sự di cư ồ ạt của nhóm người biển vào các cao nguyên là điều tạo nên các nền văn hóa tiền Sa Huỳnh.
Nói về nhóm cư dân nói tiếng Malayo – Polynesien có hai bộ phận, một sống ven biển và đảo như đã đề cập ở trên, một sống trên các cao nguyên gọi là người Rừng. Tóm lại nói về cư dân của Champa có lẽ nên nghĩ theo hướng có sự giao thoa ảnh hưởng giữa người bản địa ở Lục địa (người Môn – Khơme và người ngữ hệ Malayo – Polynesien) với người Nam Đảo di cư vào đất liền. Tất cả đã có sự hòa hợp giao lưu văn hóa tạo nên nền văn hóa tiền Sa Huỳnh, cơ sở đầu tiên giúp khu vực này đi đến ngưỡng cửa thành lập quốc gia.
1.1.3 Văn hóa Sa Huỳnh – cơ sở của vương quốc cổ Champa.
Như đã đề cập ở trên trước văn hóa Sa Huỳnh là văn hóa tiền Sa Huỳnh mang những đặc điểm của nền sơ kỳ kim khí như vùng Hạ Long, Quỳnh Văn, Long Thạnh, Bình Châu. Đây là sự chuẩn bị đầu tiên cho nền văn hóa khai quốc, như Óc Eo – Phù Nam ở vùng châu thổ sông Cửu Long.
Miền Trung Việt Nam được xem là nơi mà văn hóa Sa huỳnh ra đời, và là sựu tiếp nối từ văn hóa tiền Sa Huỳnh. Văn hóa Sa Huỳnh hình thành từ thiên niên kỷ I trước công nguyên là văn hóa gắn liền và có nguồn gốc phần nào của sự di cư từ nhưng người ven biển và đảo. Đây là một giai đoạn mới của nền văn hóa, và đến giữa thiên niên kỷ I trước công nguyên vùng đất miền Trung đã bước vào thời sơ kỳ đồ sắt. Trước khi xem Sa Huỳnh có phải là nền văn hóa tiền than của Champa hay không thì chúng ta nên nhìn nhận một số đặc điểm nổi bật của nền văn hóa này. Thứ nhất, đồ gốm đã có chân và trang trí hoa văn, chủ yếu khắc vạch, hình song, có nắp đậy, một số được miết bóng, đó là về đồ gốm. Thứ hai, người chết được chôn trong vò đất nung (có hình trứng hay hình trụ, đáy cong, cái lớn đường kính từ 80 – 100 cm, cái nhỏ từ 40 -50 cm), đã sử dụng hình thức cải tang và hỏa tang, trong các vò chôn có mảnh thủy tinh màu, mã não, … có thể người Sa Huỳnh đã biết chế tạo thủy tinh, nhưng không hoàn toàn là vậy, vì các mảnh thủy tinh có nguồn gốc từ nước ngoài và được mài dũa lại khi đến đây. Bên cạnh đó, người ta còn tìm thấy trong các mộ còn có đồ trang sức pendant hình đầu thú và trang sức vỏ sò của người Nam Đảo, điều này chứng tỏ sự hòa hợp cộng cư là có thật. Thứ ba, các nhà khảo cổ còn tìm thấy các khuôn đúc đồng, xỉ đồng, vũ khí sắt, dao, rìu, cuốc, thuổng, và đồ đá,… do đó có thể khẳng định niên đại của văn hóa Sa Huỳnh là vào cuối thòi kỳ đồ đồng và đầu đồ sắt, và có sự giao thao, đóng góp của nhóm người di cư từ biển vào là rất rõ.
Tóm lại, kết quả của quá trình trên là sự biểu hiện đậm đặc của văn hóa biển ở miền Trung Việt Nam. Nhưng không phải là văn hóa Ấn Độ, vì chỉ khi một thời gian dài những Visnu giáo hay Siva giáo mới có mặt ở Champa.
Chính sự chính mùi của nền văn hóa khiến cho vùng đất này đứng trước ngưỡng cửa của văn minh và có lẽ nếu không chịu sự đô hộ của nhà Hán thì đã sớm hơn nữa xuất hiện một quốc gia.
1.2 Vương quốc Champa từ khi thành lập đến cuối thế kỉ X.
1.2.1 Champa giai đoạn Sinhapura (thế kỉ II đến năm 750).
Văn hóa Sa Huỳnh không phải là nguyên nhân trực tiếp hình thành nên Champa mà đó chỉ là nền tảng duy nhất như những nền văn hóa Óc Eo hay sông Hồng của Phù Nam hay Đại Việt. Bởi lẽ việc hình thành nên một quốc gia hẳn phải có một nguyên nhân nào mang ý nghĩa sống còn hơn chẳng hạn như chống ngoại xâm, làm thủy lợi, chứ không phải là văn hóa vì có thể từ nền văn hóa khác hay một nền văn hóa ưu thế chỉ là cơ sở và cái nhân của quốc gia. Nói chung văn hoá Sa Huỳnh đóng vai trò thúc đẩy đến ngưỡng cửa lập quốc chứ không phải là nguyên nhân trực tiếp.
Nói về quá trình tiến tới sự ra đời của Champa, có lẽ nên trở lại cuộc đấu tranh chống nhà Hán vào thế kỉ II trong những vùng đất như Cửu Chân, Nhật Nam, Giao Chỉ. Trong đó nên chú ý đến phong trào chống Hán của nhân dân quận Nhật Nam với vai trò to lớn có lẽ nằm ở huyện Tượng Lâm. Trước ách áp bức bóc lột của nhà Hán nhân dân các vùng đã liên kết với nhau để chống trả. Những năm 40 của thế kỉ I, Quận Nhật Nam cũng đã hưởng ứng mạnh mẽ phong trào của hai Bà Trưng, nhưng đều chịu kết quả chung là thất bại. Sau thời gian lắng xuống, phong trào đấu tranh chống Hán lại nổ ra mạnh mẽ nhưng phải sau gần một thế kỉ. Năm 136, huyện Tượng Lâm lại nổ dậy và tiếp sau đó là những năm 144, 157 và cuối thế kỉ II, vai trò lãnh đạo lúc này là của một người có tên là Khu Liên (Khu Đạt, Khu Vương). Như vậy suốt thế kỉ II, nhân dân Tượng Lâm nói riêng đã cùng với nhân dân Cửu Chân, Nhật Nam bắt tay nhau để chống lại sựu đô hộ của nhà Hán và đến năm 193, cuộc đấu tranh của nhân dân Tượng Lâm thành công trước nhất. Tiếp nối sau thắng lợi trên, cùng với trình độ của nền văn hóa đạt đến ngưỡng có thể hình thành nên một quốc gia thì không có lý nào mà không thể có một Nhà nước. Nhìn lại những nền tảng của văn hóa Sa Huỳnh và nguyên nhân trực tiếp đã phân tích ở trên có thể nói rằng Champa ra đời trong bối cảnh đó, thời gian là vào cuối thế kỉ thứ II. Nhưng cái tên Chmapa thật sự không phải là hiệu của đất nước do Khu Liên lập nên, Champa chỉ xuất hiện vào cuối thế kỉ VI thời vua Sambhuvarman. Nếu nói như vậy tên gọi lúc mới lập quốc là gì? Chắc hẳn là Lâm Ấp, điều này hợp lý hơn vì thứ nhất địa bàn của Lâm Ấp (tạm gọi là Lâm Ấp) và huyện Tượng Lâm gần như nhau, phía bắc sông Gianh, ở bắc Hải Vân, từ sông Gianh đến sông thu Bồn, từ Quảng Bình đến Huế ngày nay. Thứ hai, về tên gọi Lâm của Lâm Ấp được lấy từ chữ Lâm của Tượng Lâm.
Cũng khẳng định một điều về Lâm Ấp và Champa, đây là hai quốc gia kế tiếp nhau, chứ không phải là một. Lâm Ấp chỉ là giai đoạn đầu, nơi của nhóm dân cư ngữ hệ Malyao – Polynesien đầu tiên với nền văn hóa biển của họ. Và chính quốc gia này là bước đầu của sự giao thoa với văn hóa Ấn Độ, mở ra thời kì gọi là Champa. Và giai đoạn đầu – Lâm Ấp được xem là sự lớn mạnh của phía Bắc, sau đó là Nam Champa.
Trở lại với tiến trình lịch sử Champa, sau khi lập quốc mà như gọi ở trên là quốc gia Lâm Ấp, đây chính là giai đoạn Sinhapura, tồn tại từ thế kỉ II đến năm 750. Sau khi lên ngôi làm vua được mấy chục năm, do không có con nối dõi nên cháu ngoại là Phạm Hùng lên thay, cho đến thế kỉ III. Tiếp nối là Phạm Dật làm vua từ năm 337 – năm 349. Phạm Văn là người kế tục và sau nữa là đến Phạm Phật tại ngôi từ năm 349 – năm 361, và đến Phạm Tu Đạt làm vua cuối thế kỉ IV – đầu thế kỉ V.
Giai đoạn từ Phạm Hùng đến Phạm Văn nhiều lần Trung Quốc đem quân chiếm đánh nhưng không thành, một phần vì đại thế bất lợi cho kẻ ngoài, phần vì sự tài giỏi về quân sự của các vị vua này. Đáng chú ý ngoài thành công chống ngoại xâm, từ thế kỉ thứ III, Phạm Văn đã chú ý xây dựng bộ máy chính quyền, quân đội, nhiều lần đánh phủ quận Nhật Nam, chiếm Nhật Nam và lấy Hoành Sơn làm cương vực phía bắc. Trong suốt 5 thế kỉ của mình Lâm Ấp có những lúc lớn mạnh có những lúc suy yếu nhưng dù sao đó chỉ là giai đoạn sơ khai của một Champa sau này. Cái tên Champa là sự kế tục cho Lâm Ấp, nhưng nó không phải xuất hiện ở thế kỉ IV, mà lúc này chỉ là sự phát triển mạnh của nhóm cư dân Chăm và văn hóa của họ. Mĩ đến thế kỉ V, tên Champa mới xuất hiện trên nền của một vương quốc trước đó. Nói về Lâm Ấp, chính là một “sự cống hiến của vương triều này với vương quốc Champa trong một thời gian 5 thế kỉ có vẻ là không nhiều, nhưng rất căn bản: với sự thống nhất bước đầu, gồm miền Bắc, miền Trung và một phần Nam Chăm, Nam Đèo Cả, tức là Khánh Hòa; sự sang tạo chữ Chăm cổ, sự sang tạo một kiểu kiến trúc, một nền nghệ thuật, tiêu biểu là nghệ thuật E1, còn để lại dấu ấn ảnh hưởng về sau đến Nam Chăm và đến cả Chân Lạp – Campuchia. Đó là sự mở đầu và sự đặt nền móng cho cả Champa.”[2].
Tóm lại, từ văn hóa biển đã hình thành nên một Lâm Ấp, một nền tảng cho Champa, một đóng góp lớn lao với những sáng tạo đến từ sự giao thoa và phát triển văn hóa bản địa, văn hóa Nam Đảo, văn hóa Ấn. Cái Ấn Độ trong Champa nổi lên có hai đặc điểm là từ chữ Phạn sang chữ Chăm cổ và kiến trúc Ấn – khu Mỹ Sơn (từ thế kỉ IV). Nhưng không hoàn toàn là vậy, bởi trong kiến trúc điển hình thời kì này, mà tượng trưng là Mỹ Sơn có phần vòm cửa (thực tế tìm thấy tại khu E1 – chuyến thực tế miền Trung) chịu ảnh hưởng của kiến trúc Chân Lạp, nhưng kĩ thuật làm gạch, xây gạch lại là của người Chăm.
Nhưng con đường truyền bá văn minh Ấn Độ vào Champa giai đoạn này là nơi nào, từ đâu? Nhiều người cho rằng hẳn là do buôn bán với thương nhân Ấn Độ, điều này không sai, nhưng sẽ không đúng khi nói văn hóa Ấn Độ truyền san Champa trước tiên. Sự thật không phải như vậy, mà là thông qua Phù Nam, điều này có lẽ đúng hơn, khi xét về kinh tế thương nghiệp thì Phù Nam là bá chủ trong khoảng thời gian này, và nói về văn hóa Ấn thì cũng những người Phù Nam là tiếp thu sớm hơn. Vậy từ Nam Đảo vào thì sao, các quốc gia này dù sao vẫn là phát triển muộn hơn Phù Nam, nhưng vẫn có sự giao lưu nào đó ngay từ khi người Nam Đảo đi vào đất liền mang theo một phần văn hóa Ấn Độ. Có lẽ cả ba hướng trên là những con đường du nhập văn hóa Ấn Độ vào Champa. Nhưng có lẽ việc người Ấn đến từ lâu là có vai trò rõ nét nhất trong sự ảnh hưởng văn hóa, một bên có nhu cầu tiếp nhận để thống nhất và phát triển (Champa) một bên muốn ảnh hưởng văn hóa để tỏ rõ thế của mình, hay đó chỉ là sự thực không tránh khỏi giữa một nền văn hóa trước với nền văn hóa sau.
Sau Lâm Ấp có phải là sự tiếp nối của Champa hay không? Nếu dựa vào văn hóa của hai thời kì từ đầu công nguyên đến thế kỉ VI và tiếp đó đến thế kỉ VII, thì ta thấy có một sự phát triển trên nền văn hóa Sa Huỳnh như hình thức chôn cất bằng chum, vò và trang sức thủy tinh,… Tuy nhiên trong khu đền tháp Mỹ Sơn có bi kí chỉ ra rằng khoảng thế kỉ VII có sự xuất hiện của tên gọi Champa. Nhưng có thể cái tên đó sớm hơn, bởi lẽ từ thế kỉ IV người Chăm cổ đã phát triển mạnh mẽ, có cả chữ Chăm cổ ra đời, Champa có lẽ bắt đầu từ sự phát triển trên. Nhưng tóm lại, dẫu có hay không sự kế tục giữa Lâm Ấp và Champa thì chắc hẳn đã có một xu hướng thống nhất, có thể về lãnh thổ hay văn hóa, còn tên gọi chỉ để làm rõ mấy điểm biệt lập, phát triển của hai mốc thời kì sơ khai và bắt đầu ổn định.
Như vậy từ thế kỉ II đến thế kỉ VII, gọi là giai đoạn Sinhapura, bắt đầu của nền văn hóa Chăm, văn hóa sáng tạo từ sự kết hợp văn hóa biển trước kia và ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Sau năm 750, người Chăm chuyển kinh đô về miền Nam, có lẽ là tránh sự xâm lược của nhà Đường. Nhưng tất cả thời gian từ 190 – 750, Sinhapura đã phát triển một cách ổn định, có quan hệ rộng lớn mà nhìn rõ nhất qua sự giao lưu văn hóa, và Sinhapura còn là một trung tâm quần cư đông đúc với kiến trúc Trà Kiệu, chữ Chăm cổ đã đem lại những giá trị, những bước đi đầu tiên, sự chuẩn bị cho những giai đoạn về sau của Champa. Cũng cần nói rõ, Trà Kiệu được coi là trung tâm chính trị của Champa giai đoạn này và Mỹ Sơn được xây từ thế kỉ III là trung tâm tâm linh – tín ngưỡng – tôn giáo.
1.2.2 Giai đoạn Virapura (khoảng từ năm 750 đến năm 850).
Virapura là vương triều phía Nam thường gọi là Nam Chăm, tiếp nối Sinhapura, nhưng cái nguyên nhân để họ đột ngột chuyển từ miền Bắc về miền Nam thì chưa chắc chắn, lí thuyết được nhiều người chấp nhận là Sinhapura e ngại sức mạnh của nhà Đường. Nhưng cho dù nguyên nhân họ quyết định chuyển về phía Nam là như thế nào đi nữa thì ta vẫn thấy có sự tiếp nối văn hóa và cái gì đó của một vương quốc Champa. Cụ thể như thế nào thì cần đi vào tiến trình lịch sử và những tác động, nguyên nhân của cả một quá trình, một giai đoạn Virapura.
Đến lúc này Virapura chính là trung tâm chính trị và Po Nagar là trung tâm tâm linh – tín ngưỡng hay gọi là thánh địa tôn giáo, nhưng không hoàn toàn là vậy mà còn có vùng Kauthara. Triều đại Virapura tuy tồn tại trong một thế kỉ sau khi bị Java tấn công, tuy vậy giai đoạn này của Champa đã tạo nên nhiều đặc điểm thú vị.
Mở đầu cho vương triều ở Nam Champa là vị vua Rudravarman II từ năm 750 đến năm 756, sau đó là thờ kì trị vì của Prithivindravarman, rồi đến Satyavarman tại ngôi khoảng năm 774 đến năm 784, tiếp tục là vua Indravarman I trị vì khoảng năm 801 – năm 817, cuối cùng là vua Vikrantavarman II ở ngôi từ năm 829 – năm 854. Các di chỉ và đền tháp thời kì này tập trung chủ yếu ở Phan Rang, Phan Thiết, vùng Ninh Thuận, Bình Thuận.
Nhưng kiến trúc lại mang nhiều sự kết hợp giữa Chăm và Khơme, mà ngôi tháp đầu tiên ở vương triều phía nam là Po Shah Ineu, có nét tương tự với Mỹ Sơn E1 (nữa thế kỉ VIII). Đặc điểm chung của hai ngôi tháp này là gạch xây tương đối nhẹ nhàng, thanh thoát, trụ cửa vuông với vòm cửa hình cung duỗi là dấu ấn Chăm rất rõ. Po Shah Ineu chỉ là một trong 3 khu di tích, 2 khu còn lại là Hòa Lai (Ninh Thuận) và cụm tháp Pô đam (Bình Thuận). Nói về Hòa Lai, nơi đây có 3 tháp lớn, nằm ở phía bắc cách Phan Rang 20 km, văn cửa hình lá, vòng cửa hình cung, có nét phát triển hơn cụm tháp ở phố Hài. Cuối cùng là cụm tháp Pô đam (Bình Thuận), cách Phan Thiết 60 km, và cách Phan Rang 40 km về phía nam, điểm đặc biệt ở khu này là mỗi tháp đều có một bộ Linga – Yoni, có niên đại từ 830 – 850 tức là sau Hòa Lai (niên đại từ 810 – 820), cùng loại với hai tháp A2 và E7 ở Mỹ Sơn. Nhìn chung cả ba khu đền tháp này đều nằm trên địa bàn Ninh Thuận và Bình Thuận, cùng với Po Nagar ở Nha Trang với Mỹ Sơn là sự tiếp nối với nhau về kiến trúc.
Lý do nêu lên các cụm tháp chỉ với mục đích chứng minh sự tiếp nối văn hóa, đặc biệt là kiến trúc ở Champa từ vương triều phía Bắc xuống phía Nam nhưng có lẽ thể hiện rõ nhất là ở Mỹ Sơn, đến nay Mỹ Sơn không còn là các tháp gỗ nữa mà được xây dựng hẳn hoi bằng gạch Chăm với kiến trúc lai giữa Chăm và Khơme có nguồn gốc từ Chân Lạp. Sự tiếp thu văn hóa Khơme không phải là một con đường văn hóa bình thường, mà là kết quả của nhiều năm Champa tiến đánh Chân Lạp (vào các năm 802 và 809). Sự lớn mạnh sau khi bị Java tàn phá còn thể hiện việc tấn công lên phía bắc mà mục tiêu không ai khác là An Nam đô hộ phủ của nhà Đường. Chính sự phát triển của đền tháp là một biểu hiện cho những thành quả từ sự lớn mạnh mà Champa có được khi mà lúc này phía Bắc – tạm gọi là Đại Việt bị đô hộ bởi nhà Đương và Phù Nam suy yếu, Chân Lạp lại không phải là trở ngại, những kẻ Nam Đảo lại quá xa.
Tóm lại giai đoạn Virapura là sự tiếp nối và phát triển từ giai đoạn Sinhapura, nhưng khi chuyển về vùng đất phía Nam, Champa thời kì này chịu ảnh hưởng không chỉ văn hóa Ấn mà còn là của Khơme.
1.2.3 Giai đoạn Indrapura (khoảng những năm 850 đến năm 982).
Lại một sự tiếp nối khó hiểu, mà chủ yếu là không có đủ tư liệu để xác minh nguyên nhân tại sao người Chăm lại dời kinh đô ngược lên phía Bắc, mà địa điểm đóng đô là ở Đồng Dương. Nếu như ở giai đoạn trước việc chuyển từ phía Bắc xuống phía Nam còn có cơ sở vì e ngại sự xâm lược của nhà Đường. Nhưng từ Virapura sang Indrapura thì lại không có một sự đe dọa nào ngoại trừ Java xâm lược cuối thế kỉ VIII. Đoán định nguyên nhân dời ra vùng Đồng Dương phải chăng cũng giống như việc nhà Lý (Đại Việt) dời từ Hoa Lư về Thăng Long. Phải chăng họ muốn chọn một nơi tốt hơn khi tình hình đã ổn định, và phải chăng vị thế của Đồng Dương phù hợp hơn so với vùng phía Nam. Đó chỉ là một giả thuyết mang tính chất phỏng đoán, có thể xem là quá chủ quan, nhưng cũng có thể có căn cứ phần nào đó vì tư liệu về việc này hầu như hoàn toàn không có. Tuy nhiên, một đặc điểm chung sau mỗi lần dời đô là “vừa có sự khác nhau, vừa có sự tiếp nối và dường như là liên tục về lịch sử.”[3]. Cụ thể như sau:
Những bi kí nói về thời đại này có lẽ rõ rang hơn hẳn các giai đoạn trước đó. Người Chăm thật sự đóng đô ở Đồng Dương là vào những năm 875, dưới triều đại của vua Indrapura, và đây được xem là một bước ngoặt của Champa. Nhưng trước khi nói bước ngoặt cụ thể được tạo ra từ việc dời đến Đồng Dương là gì thì cần xác định đấy có phải là kinh đô của Champa giai đoạn này hay không. Để làm rõ nên nhìn nhận lại kiến trúc ở Đồng Dương lúc này có cả hoàng cung bằng gỗ và đài thờ thần xây bằng gạch, có vòng thành. Còn Trà Kiệu có lẽ chỉ là một điểm quần cư. Trên bia Đồng Dương I, theo giáo sư Lương Ninh chính Indravarman II đã bắt đầu xây dựng kinh đô Indrapua, thì đã quá rõ.
Nhưng trước vua Indravarman còn có 5 vị nữa là Paramesvarsa, Uroja, Dharmarja, mà hơi mờ nhạt về thông tin và có vua Rudravarman III, Bhadravarman III. Tiếp theo người được xem là mở đầu cho vương triều Indrapura – vua Indravarman (trị vì từ năm 875 đến năm 898) là vua Sri Jaya Sinhavarman I (ở ngôi từ năm 898 – 908), vua Jaya Saktyavarman, Sri Bhadravarman III (từ năm 908 – 916), Indravarman III (917 – 960), cuối cùng của triều đại này là Phê Mi Thuế (trị vì từ năm 972 – 982).
Nói thêm về Indravarman, thời của ông có sự đặc biệt và có thể nói là khác biệt so với trước đây là sự xuất hiện của Phật giáo đại thừa và cả sự tôn sung Ấn Độ giáo cảu trước kia, nhưng ưu thế trong tín ngưỡng tôn giáo vẫn nghiêng về Phật giáo hơn. Điều này có thể thấy ngay trong tên của vua Indravarman, nhưng vẫn phải tôn thờ thần Siva. Trong khảo cổ học người ta cũng tìm thấy nhiều pho tượng Phật bằng đá và đồng thau ở Đồng Dương, nhưng đều lí thú và có chút liên quan là những pho tượng này cùng với một số pho tượng tìm thấy ở Thái Lan có niên đại từ thế kỉ III hay IV và không phải từ hai nơi này mà là từ một trung tâm Phật giáo, có thể là Ấn Độ du nhập sang. Không chỉ thế, các gương đồng nhà Hán cũng tìm được ở Đồn Dương, càng chứng minh rõ hơn cho sựu giao lưu kinh tế – văn hóa thời đại Indravarman. Và không sai khi khẳng định rằng Champa lúc này đang hưng khởi, nhưng ngoài xu hướng thống nhất để phát triển chính sự vươn lên mạnh mẽ đã vô tình tạo nên sự phân quyền.
Văn hóa Đồng Dương tuy phát triển mạnh nhưng nó không phải là duy nhất, mà còn có sụ phục hồi mạnh mẽ của Trà Kiệu. Cả hai có sự khác nhau, đó là điểm nào. Trước tiên điểm qua vài nét trong nền văn hóa ở Đồng Dương, thứ nhất về kiến trúc mang đậm tính uy quyền, vòng cửa tháp ở Đồng Dương hẹp có khi giống tam giác, phủ hình sâu do cách điệu khỏe khoắn, khác với đền Mỹ Sơn A1. Thứ hai, về tạc tượng, mặt tượng nhẫn nhụi, tươi, mũi bớt nở, môi dày, quần áo giản nhẹ và phát triển cao hơn là ở Trà Kiệu, nhưng sẽ chỉ rõ ở phần văn hóa trong mục sau. Ở đây chỉ khẳng định sau Đồng Dương văn hóa gốc Trà Kiệu trước đây giờ đã phục hồi và vươn tới đỉnh cao mà trong nó có một phần văn hóa Đồng Dương và ảnh hưởng của Chân Lạp.
Trở lại với tiến trình lịch sử của Champa giai đoạn Đồng Dương – Indrapura. Thế kỉ thứ X, Indrapura đứng trươc khó khăn lớn khi chịu sức ép cả hai phía, Bắc với Đại Việt, Tây Nam với Chân Lạp khi mà hầu như các cuộc chiến giữa hai thế lực chặn hai đầu với Indrapura là liên tục. Khoảng năm 945 – 946 vua Chân Lạp là Rajendravarman II sau khi thống nhất Nam Bắc đã tiến đánh Tây Nam Champa hủy đi đền Po Nagar. Đồng thời ở phía Bắc Đại Việt đang từng bước lớn mạnh sau khi thoát khỏi ách thống trị của phương Bắc, cũng mong muốn mở mang bờ cỏi về phía nam, đây là sự đe dọa rất lớn đến Champa. Năm 982 Lê Đại hành tiến đánh Champa và vương triều Indrapura kết thúc. Đó là nguyên nhân trực tiếp, sâu xa hơn là do tình trạng đấu tranh của Nam và Bắc Champa lúc bấy giờ kinh tế suy yếu. Tình hình lúc này hết sức lộn xộn và trước nhiều sức ép một lần nữa người Chăm lại chuyển về phía Nam, lập nên một vương triều mới – Vijaya, mở đầu cho thời kì thống nhất và phát triển.
1.3 Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Champa từ khi thành lập đến cuối thế kỉ X.
1.3.1 Kinh tế.
Trước khi đi vào từng lĩnh vực một, nên có hiểu biết về những cơ sở của nền kinh tế Champa lúc này. Từ lâu, miền Trung Việt Nam nơi từng tồn tại một vương quốc cổ Champa đã là vùng đất giàu sản vật. Do điều kiện khí hậu tương đối thuận lợi, nhiệt đới gió mùa, lại gần với biển, nên cư dân nơi đây sống trong điều kiện hầu như là rất tốt. Trong rừng, nguồn gỗ, đặc biệt là trầm hương nhiều vô số, dọc bờ biển lại có nhiều dừa, đó là hai thứ cây có ít nhiều nhất. Đặc biệt, vàng, cát trắng, kim loại là những thứ phục vụ tốt cho thủ công nghiệp. Nói đến biển, tuy nó không đem lại cho Champa một nguồn lợi ngoại thương lơn nhưng lại là kho hải sản phục vụ cho cộng đồng dân cư. Chính những cơ sở trên cộng với tập quán kinh tế của cư dân Champa tạo nên những đặc điểm riêng về kinh tế so với các quốc gia khác. Cụ thể như sau:
“Champa căn bản vẫn là một nước nông nghiệp”[4] và thật sự nông nghiệp phát triển mạnh hơn thương nghiệp. Sự tác động mạnh của điều kiện tự nhiên là bước đầu quy định nên đặc điểm kinh tế của vương quốc này. Cũng như một số nước trong khu vực một khi lấy nông nghiệp làm chính thì cây lúa giữ một vai trò hết sức to lớn. Và lúc này người Chăm đã trồng loại lúa ngắn ngày với sản lượng cao gọi là lúa Chiêm. Đặc biệt lúa được trồng không chỉ ở ruộng bậc thấp, mà có cả hình thức canh tác bằng ruộng bậc thang với hệ thống thủy lợi đa dạng. Hệ thống thủy lợi được chia làm hai loại, một là các kênh dài vài trăm mét gọi là thủy lợi quốc gia, hai các đường nước nước cạn và nhỏ dẫn vào ruộng gọi là thủy lợi địa phương.
Ở Champa thời kì này, kinh tế tiểu nông là nền tảng, là nông nghiệp gia đình chủ yếu mang tính tự cung tự cấp. Để đảm bảo đời sống, người dân Champa với truyền thống từ xưa, nay họ cũng tự trồng rau, chăn nuôi. Nhưng không vì vậy mà có sự tách biệt trong nông nghiệp, chính nhu cầu mở rộng sản xuất và tìm kiếm nguồn nước, đất đai, bảo vệ nhau, cư dân nông nghiệp đã liên kết lại để tạo cộng đồng mang tính nông nghiệp, và nhìn vào nguồn gốc ban đaầu của cư dân Champa, họ là những người gốc nông nghiệp chứ không phải là thương nghiệp từ đầu, nên Champa giai đoạn này là một nước “nông vi bản”[5].
Để phục vụ cuộc sống cũng như là sản xuất, đòi hỏi thủ công nghiệp phải thật sự phát triển. Sự thật đúng như vậy, các nghề truyền thống và nghề có nhu cầu đặc biệt được chú trọng hơn. Ở đây có thể kể vài nghề thủ công như: Thứ nhất, trong dệt người ta đã bắt đầu biết trồng bông, đay, và việc se sợi hay nhuộm màu đã rất phổ biến. Đều đặc biệt,trong khi se vải, người Cham không dùng dọi se bằng gỗ mặc dù nguyên liệu đó là không thiếu, thay vào đó là những dọi bằng gốm. Phải chăng đây là ảnh hưởng mạnh từ văn hóa Sa Huỳnh. Tuy nhiên khi đi vào tìm hiểu việc làm gốm của Champa giai đoạn này lại không đặc sắc, không chú trọng vì chủ yếu họ sản xuất ra các vật dụng để đựng dùng trong sinh hoạt hằng ngày.
Liên quan đến gốm, việc sản xuất gạch đã xuất hiện, với kĩ thuật nung rất tốt. Trong khi hầu hết nhà và cung điện đều là gỗ, gạch chủ yếu dược sử dụng trong các công trình tôn giáo. Trên gạch còn có hoa văn được khách tỉ mĩ, điều đặc biệt đó là đôi khi thành phần những viên gạch không đơn thuần là đất sét mà họ còn trộn vào một hợp chất hữu cơ, làm cho gạch xốp, dễ thoát nước, có thể nhận rõ trong các tháp ở Mỹ Sơn. Cũng với cách làm tương tự, họ tạo ra một loại vữa kết dính, nhưng đó chỉ là giả thuyết được đưa ra để lí giải về cách xây dựng nên các tháp ở Mỹ Sơn.
Trong thủ công nghiệp còn có nghề làm đồ trang sức và vũ khí. Trang sức chủ yếu kết từ sản vật biển như ngọc trai, vỏ sò, và ngoài ra còn có vàng, bạc, tuy nhiên cũng giống như các nghề thủ công kể trên, mục đích quá rõ là phục vụ vua chúa, thần linh
Có thể do nền nông nghiệp mang tính tự cung, tự cấp, thủ công nghiệp tuy phát triển nhưng phục vụ cho vua và thần linh nên vì vậy mà thương nghiệp không phát triển chăng. Đó chỉ là một nguyên nhân cơ bản, bởi lẽ mỗi gia đình đã đủ lực để nuôi sống mình, họ cũng thỏa mãn phần nào về đời sống hiện tại mà từ đó dẫn đến mua bán trong nước kém phát triển. Từ nội thương như vậy kéo theo ngoại thương không mấy nổi bật. Tuy có nhiều cảng nhưng chỉ là những bãi cát nhỏ gần các khu quần cư, chưa thật sự từ cảng thị. Nhưng nói không có thương nghiệp là không đúng, vì nó chỉ đang trong tình trạng không phát triển. Thuyền bè đến đây, chủ yếu trao đổi những mặt hàng thiết yếu để phục vụ cho hành trình sang Trung Quốc – kết thúc con đường thương mại Đông – Tây. Và ở Champa thương nghiệp không phát triển là do quyền mua bán chủ yếu là của vua chúa, nên thu vào chỉ là những mặt hang phục vụ triều đình và thần linh, không thật sự là mua bán đúng nghĩa. Nó khác hẳn hoàn toàn với Phù Nam.
Tóm lại, kinh tế Champa là nền kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp tuy phát triển nhưng chỉ phục vụ cho những mục đích bó hẹp cho vua chúa và thần linh. Họ có nền thương nghiệp, nhưng thương nghiệp không được mặn mà cho lắm.
1.3.2 Cơ cấu xã hội.
Điều đầu tiên dễ dàng khẳng định là ở Champa có một tầng lớp quý tộc – quan lại, trong đó có những người có quyền lực chính trị, và những người chuyên lo các việc lễ nghi và tôn giáo. Đây là tầng lớp được hưởng nhiều quyền lợi, có của cải riêng và là những người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng đền miếu.
Qua các thư tịch cổ và bi kí, tấm màn về tầng lớp trên đã rõ, nhưng ngoài họ còn những tầng lớp nào khác, quan hệ giữa các tầng lớp bị rang buộc bởi yếu tố nào?
Như đã khẳng định ở trên, tầng lớp quý tộc là những người có nhiều quyền lợi, nhưng Champa là một nước nông vi bản, như vậy những người lớp trên phải nắm trong tay nhiều ruộng đất. Điều đó có thể hoàn toàn đúng, nhưng cái hình thức họ sở hữu là dưới dạng lãnh địa, hay thấp hơn là những mẫu ruộng riêng. Có lẽ không phải vậy, nếu nhìn vào xã hội Champa, dưới những người quý tộc, còn có bộ phận nông dân công xã, chính họ sở hữu trực tiếp phần lớn đất canh tác và sống quần cư tại các công xã. Nông dân chịu sự chi phối và phụ thuộc vào tầng lớp trên, do đó cũng có thể khẳng định những người quý tộc – quan lại sở hữu ruộng đất trong tay một cách gián tiếp qua công xã, mà muộn hơn là các làng (grama). Như vậy chắc chắn có một sự bóc lột bằng địa tô và hoa lợi mà ngườ nông dân phải gánh chịu, nhìn vào đặc điểm này ta có thể thấy xã hội Champa có những nét chung với các nước trong khu vực cùng giai đoạn.
Nhưng ngoài sự giống nhau đó, nó còn có gì khác biệt, điểm khác biệt có lẽ nằm ở tầng lớp cuối – nô lệ. Nhưng nguồn gốc của nô lệ ở Champa là từ đâu và được sử dụng để làm những việc gì? Thứ nhất nói về nguồn gốc nô lệ, nếu giải thích theo cái chung của thời đại, thì họ xuất than từ các nguồn chủ yếu như: bị bần cùng hóa bởi chính sách địa tô nặng nề, nhưng đối với trường hợp Champa không khả quan, khi mà mức thuế là rất hợp lí khoảng 11/60 sản phẩm, cùng với lao dịch trong công xã và đền miếu, thuế được nộp đều trong thời hạn dài nên nông dân đảm bảo là đủ sống; Nếu cho là từ việc bắt tù binh, thì cũng không nhiều, khi vào giai đoạn tương đối mạnh, Champa chỉ hai lần đánh Chân Lạp mà tiêu biểu ở năm 802 bắt một số người Khơme làm nô lệ cúng tế; Và nếu nếu đi theo hướng khác sẽ hợp lí hơn. Đi ngược lại với tôn giáo cùng với đó là việc xây dựng đền tháp ở Champa lúc bấy giờ, các khu đền được xem là những nơi có kinh tế riêng, được cung ứng các nhu cầu nhu một kinh thành thu nhỏ. Và do ảnh hưởng lễ nghi Ấn giáo, đòi hỏi trong các đền ngoài những người chuyên lo việc cúng tế phải có những người chuyên làm nghĩa vụ cho thần linh – đó là nô lệ. Như vậy, việc mà nô lệ làm đã rõ, nhưng còn về nguồn gốc, họ bắt nguồn chủ yếu là từ nông dân và tù binh, mà chủ yếu là bị bắt, hoặc phục vụ ngắn hạn. Giả thuyết về việc làm nghĩa vụ trong đền tháp và được coi là nô lê có kì hạn cũng có cơ sở của nó vì nô lệ cũng được cấp ruộng đất và sống trong các làng, có kinh tế riêng. Nhưng ngoài phải phục vụ lễ nghi, múa nhạc (vũ nữ), nô lệ còn có một bộ phận ít phục vụ vua chúa – quan lại. Cũng từ nô lệ này, một số quý tộc khi xây đền đã dùng chính nô lệ của mình để phục vụ lễ nghi hay dâng tặng cho các đền lớn. Tóm lại, khẳng định chắc chắc trong xã hội Champa có nô lệ là điều không chối cãi đươc.
Như vậy xã hội Champa đã có 3 tầng lớp rõ ràng, đó là quý tộc – quan lại, nông dân công xã, nô lệ, họ bị ràng buộc với nhau bởi chế độ sở hữu ruộng đất và lễ nghi trong tôn giáo.
1.3.3 Chính trị.
Với nền kinh tế chậm phát triển và dựa trên quan hệ sở hữu ruộng đất, nhưng vương quốc Champa đã tồn tại và có khi lớn mạn trong nhiều thế kỉ. Đó là nhờ vào quá trình củng cố không ngừng của bộ máy chính quyền, với mong muốn thống nhất.
Với ảnh hưởng mạnh mẽ của Ấn giáo, lúc này uy quyền của vua đồng nhất với thần thánh với mục đích thực chất là tôn vị thế của mình lên. Ngay trong cái tên của các vị vua cũng mang đặc điểm đó. Như trong tên vua thường có chữ Sri, tức là đấng tối cao.
Trong bộ máy chính quyền đã phân ra làm 2 cấp, trung ương và địa phương. Có ba cấp quan được phân rõ rang: tôn quan là những người có chức cao, đứng đầu quan võ; thuộc quan; ngoại quan là những người cai trị ở địa phương. Về sau có chưc Tể tướng đứng đầu các quan.
Bộ máy chính quyền luôn được bảo vệ bởi một đội quân thường trực từ 4 – 5 vạn người. Nói về quân đội, lúc này Champa có hẳn ba loại là bộ binh được trang bị cung, nỏ, kích,toản (giống với nỏ); kỵ binh và tượng binh với số lượng khá đông từ 400 – 1000 quân. Và tất cả chia làm hai loại, tiền binh và hậu binh. Việc xây dựng quân đội mạnh chỉ nhằm mục đích chính là bảo vệ vương quyền của vua, đôi khi lại là dụng cụ xâm chiếm các vùng đất láng giềng.
Tóm lại, bộ máy chính quyền và quân đội của Champa là tương đối hoàn chỉnh, nó giúp vương quốc này phát triển trong một thời kì dài mặt dù nền kinh tế không mấy khả quan.
1.3.4 Tôn giáo – văn hóa.
Nói đến văn hóa Champa cũng như các quốc gia cổ đại trong khu vực chúng ta không thể phủ nhận vai trò của những người Ấn Độ. Người Ấn đến với văn hóa và hệ thống thần quyền của mình như tiếp thêm sức mạnh cho vương quyền ở Champa những buổi đầu thành lập đất nước. Khi mà tín ngưỡng sơ khai chưa đáp ứng cho việc củng cố quyền lực cho nhà vua.
Sau khi Ấn giáo du nhập vào Champa, cư dân ở đây đã tôn sùng bộ ba trimurti đó là Bhrama, Visnu, Siva. Đến thời Đồng Dương còn tiếp thu cả Phật giáo đại thừa.
Sự ảnh hưởng của Ấn giáo đối với Champa không chỉ ở mặt tâm linh mà chi phối toàn bộ đời sống chính trị và xã hội. Nếu để ý, tên các vương triều như Sinhapura, Indrapura,… và tên vua như Sri Prasastadharma mang nét văn hóa và tôn giáo của Ấn Độ, khi mà chữ Sri có nghĩa là đấng tối cao chẳng hạn…
Một yếu tố văn hóa quan trọng được ảnh hưởng nữa là chữ viết. Người Chăm đã tiếp thu chữ Phạn (Sanskrit) – một văn tự cổ Ấn Độ. Nó được tiếp nhận và sử dụng rộng rãi ngay từ khi mới thành lập vương quốc tức thế kỉ thứ II đến thế kỉ VIII. Sau thế kỉ thứ VIII, bắt đầu xuất hiện một loại chữ mới từ chữ Phạn gọi là chữ Chăm cổ. Nên lúc này cả hai loại có vị trí như nhau, nhưng các văn bản quan trọng lại ghi bằng chữ Phạn. Thực chất người Chăm có tiếng nói riêng thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo, sau khi mượn và sử dụng chữ Phạn một thời gian họ đã sáng tạo ra chữ viết riêng cho mình với 16 nguyên âm, 31 phụ âm và 32 âm sắc. Chữ Chăm cổ là nguồn gốc sâu xa của tiếng Chăm hiện đại ngày nay được sử dụng rộng rãi ở các vùng như Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang.
Trong văn học, người Chăm ngay từ đầu đã tiếp thu và xem bộ sử thi Ramayana như là sang tác của họ, còn lập đền thờ Valmiki – tác giả bộ sử thi. Như vậy văn hóa Ấn đã in đậm trong đời sống tinh thần Champa. Văn học bản đại trở nên mờ nhạt đơn giản chỉ là những chuyện kể, viết bi kí một cách gặp khuôn, công thức, chưa xứng tầm với việc sáng tạo ra chữ viết.
Nhưng hoàn toàn Champa không phụ thuộc và sao chép một cách khuôn mẫu văn hóa Ấn Độ, đó là ở mặt đẳng cấp xã hội, không phân biệt làm 4 đẳng cấp nặng nề, mà ở Champa chỉ có 2 loại thuộc tầng lớp trên là giống với Bhraman và Ksatriya ở Ấn Độ. Ngoài ra, người Chăm còn sử dụng hệ thống lịch pháp của Ấn Độ đúng hơn là ở phía bắc Ấn – lịch saka.
Quả thật là một thiếu sót khi nói về văn hóa Champa mà không kể đến kiến trúc. Trên ảnh hưởng kiến trúc Ấn Độ, kiến trúc Champa có đặc điểm sau: Thân tháp là một khối vững chắc, có cửa chính và các cửa giả, có đường nét trang trí khỏe khoắn, mỗi thời một kiểu nhưng có cái chung nhất là nóc tháp gồm nhiều tầng xếp nếp, có hình trang trí của tầng dưới, nhưng nhỏ dần đi và tụ lại một đỉnh nhọn hướng lên cao. Trên tháp có hình trang trí, thường là cành lá, sâu đo,… được chạm khắc tinh vi. Tháp thực ra cũng là đền, bên trong chỉ thờ một vị thần, khi tiến hành lễ nghi thì ở ngoài đền.
Tuy chịu ảnh hưởng mạnh từ văn hóa Ấn Độ, nhưng khi vào Champa những ảnh hưởng đó phần nào được gia giảm đi. Có lẽ thấy rõ đều này trong các tượng thờ và đền. Nói về tượng, ở Champa không quá cường điệu hình thể mà cân đối, hài hòa hơn nhiều. Về đền tháp, nhỏ nhắn, có nhiều nếp xếp tinh vi hơn thay cho việc làm tầng bệ như đền ở Ấn Độ.
Trên đã phân tích những ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến Champa, vậy cái tồn tại trước kia, cái bản địa ở đây là gì, giữa hai cái bản địa và cái bên ngoài có lẽ nằm trong vòng bồi đắp hoàn thiện cho nhau. Chẳng hạn người Chăm trước khi tiếp xúc chữ Phạn đã có tiếng nói riêng cho mình, nhưng nhờ vào sự vay mượn đó họ mới có thể sáng tạo ra chữ Chăm cổ. Kể cả trong nhạc cụ và lễ nhạc mặt dù là theo lễ nhạc cung đình Ấn Độ nhưng có sự sáng tạo. Tuy là theo mô típ nhưng có sự chọn lọc phù hợp với thực tiễn cuộc sống cộng đồng.
Thật sự cái mà Ấn Độ ảnh hưởng về tôn giáo chỉ là cái vỏ bên ngoài, cái bên trong của người dân Champa vẫn còn đó, là phần ruột bên trong, tín ngưỡng phồn thực thờ Linga – Yoni vẫn song song với Ấn giáo, hay trong tang lễ vẫn giữ cách chôn cất bằng chum, vọ, có phát triển khi bắt đầu biết hỏa tang.
Đó là những yếu tố lắng đọng lại, làm nên văn hóa Chăm trước sự ồ ạt của văn hóa Ấn Độ.
1.4 Nhận xét.
Một Lâm Ấp rồi đến Champa được hình thành dựa trên những cơ sở nhất định về văn hóa và kinh tế bản địa, sự giao lưu với các nền văn minh lớn, mà có sự phức tạp ngay từ đầu. Từ thế kỉ II – X, Champa trải qua các triều đại tiêu biểu Sinhapura, Virapura, Indrapuara, mà gắn liền với việc dời đô một cách khó hiểu.
Thời kì này Champa được xem là những mảnh vụn, những mảng rời rạc không thống nhất, từ đó mà không có một sựu phát triển đáng chú ý nào. Tuy nhiên cuối giai đoạn này, triều đại Đồng Dương có lẽ là điểm sáng đầu tiên bắt đầu cho một sự phát triển.Bởi lẽ điều mà Đồng Dương làm được là rất nhiều:
Lãnh thổ đã phần nào thống nhất, chính quyền được củng cố từ trung ương đến đại phương.
Văn hóa Đồng Dương hay phong cách Đồng Dương – mang tính chất Hindu giáo, là sự khác biệt nằm trong toàn thể các phong cách văn hóa của Champa suốt 15 thế kỉ tồn tại thực chất.
Phật giáo vào Champa với bức tượng Phật đồng cao 1.8 m là biểu hiện cụ thể cho sự phát triển văn hóa.
Chiến tranh và thắng lợi trước Chân Lạp là nhờ có được từ kết quả của sự phát triển kinh tế, chính trị mang lại cho Champa.
Nhưng đây vẫn là giai đoạn chuẩn bị cho thời kì thịnh đật phát triển huy hoàng của Champa trước khi lặn đi trong lịch sử.
Chương 2: Champa giai đoạn phát triển và suy vong từ cuối thế kỉ X đền cuối thế kỉ XV.
2.1 Vương triều Vijaya từ thế kỉ X đến thế kỉ XV.
2.1.1 Giai đoạn phát triển và thống nhất từ cuối thế kỉ X đến thế kỉ XIII.
Vijaya là vương triều kế tục Indrapura. Sự sụp đổ của triều đại trước đã cho thấy nhiều hạn chế cần khăc phục, quan trọng nhất là tình trạng không thống nhất giữa Nam và Bắc Champa đã cản trở rất nhiều đến sự phát triển. Chính vì vậy nếu không muốn đi vào vết xe của triều đại trước, việc đầu tiên Vijaya cần phải làm là tiến hành thống nhất.
Vương triều Vijaya bắt đầu thành lập vào năm 988, sau khi Câu Thi Lị Ha Thân Bà Ma La (Harivarman II) lên làm vua, và tiến hành dời kinh đô từ Đồng Dương về Phật Thành (Phật Thệ) gần Quy Nhơn (Bình Định) ngày nay. Và từ đây bắt đầu cho một thời kì thống nhất và phát triển của Champa, từ đầu thế kỉ XI đến thế kỉ XIII.
Harivarman II trị vì từ năm 988 – năm 999 thì qua đời nhường ngôi cho con mình là Dương Phổ Cu Bi Thi Lị (Yang Pô Ku Vijaya Sri). Đến đây kinh đô của Champa mới dứt khoác dời về Phật Thành và lấy tên nước là Vijaya. Yang Pô Ku Vijaya trong thời gian nắm quyền từ năm 999 – 1010 cũng đối mặt với tình trạng bất ổn mọi mặt, nó kéo dài suốt thế kỉ XI.
Sau đó là sự tiếp nối hàng loạt đời vua Harivarmadeva làm vua khoảng 1010 – 1020, Paramesvaraman (trị vì từ năm 1020 – 1030), Vikrantavarman IV (trị vì từ năm 1030 -1041). Sau đó từ năm 1042 – 1044 là thời kì của vua Sinharvarman II trị vì, và trong một lần Đại Việt tiến đánh vua này tử trận. Vua Vijaya Paramesvararmedeva Dharmaraja I thế ngôi từ 1044 – 1060. Dưới thời của ông, ban đầu nhiều lần đụng độ với Đại Việt nhưng sao đó có lẽ nhận thấy sự bất lợi nên chủ động giản hòa và xây dựng mối quan hệ mới tốt đẹp. Trong đối nội, Vijaya Paramesvararmedeva I cho tu bổ và xây dựng thêm các đền tháp ở miền Nam, và ra sức củng cố vương quyền tại đây, mục đích duy nhất của ông là mong muốn gây ảnh hưởng ở khu vực phía Nam, tạo điều kiện thống nhất. Tuy nhiên, năm 1050 có lẽ ngoài dự tính, nhân dân Nam Champanduranga nổi dậy đòi li khai, tách biệt ra một quốc gia riêng biệt. Nhưng bằng biện pháp tôn giáo, cuộc nổi dậy đã yên ổn.
Sau Vijaya Paramesvaramedeva I, vua Bhadravarman IV lên ngôi nhưng tại vị thời gian ngắn (1060 – 1061) lại chuyển quyền lực sang Rudravarman IV (1061 – 1074) . Trong thời kì của ông vua này vào năm 1069 Đại Việt lại tiến đánh Champa bắt ông, sau đó trả tự do, và Champa phải nhượng lại ba châu là Bố Chính, Địa Lí, Ma Linh. Nhưng cuối năm 1074 nổ ra một cuộc chính biến buộc Rudravarman phải chạy sang Đại Việt. Cuộc chính biến đã đưa Harivarman IV lên ngôi ( trị vì từ năm 1074 – 1081), kết thúc thời kì bắt ổn, mở ra một xu hướng thống nhất.
Sự thống nhất đã băt đầu nhưng không phải là bằng bạo lực mà bằng một hình thức trước kia Vijaya Paramesvararmedeva I từng áp dụng, đó là mị dân bằng thần quyền. Nhưng Harivarman IV làm có vẻ chu đáo hơn chăng, ông dùng chính nguồn gốc có mưu đồ sắp đặt trước của mình để tiến hành thống nhất Nam và Bắc Chăm trong yên ổn. Harivarman IV trước tiên cho mình là một bộ phận của thần linh, tiếp theo cho rằng nguồn gốc của mình là xuất phát từ người cha thuộc họ Dừa (Bắc), mẹ thuộc tộc Cau (Nam). Với cái lí do bản thân vua là đại diện của thần linh lại mang trong người hai dòng máu Nam và Bắc, thì quá hoàn hảo để những người dân trong nước quá tôn sùng thần thánh tin rằng giữa Bắc Nam chính là một thể thống nhất. Nghe có vẻ gì đó là không chắc chắn, nhưng ở trình độ một nền văn minh thế kỉ XI mà trong tư tưởng của họ thần linh luôn là đấng tối cao, thì cái câu chuyện do vị vua trên đặt ra có lí và thực hiện được. Từ đây cơ sỏ của một sư thống nhất bắt đầu hình thành.
Chính sự thống nhất đã mang lại những tác động lớn lao về đối ngoại của Champa, đặc điểm lớn nhất là gây chiến với các nước láng giềng, nhưng lại nằm trong thế bị kìm kẹp bởi hai hướng với 2 quốc gia là Đại Việt và Champa. Tuy thua Đại Việt nhưng giành thắng lợi với Chân Lạp. Trong giai đoạn này các công trình như Trà Kiệu, hay Mỹ Sơn được tu bổ và xây dựng.
Angkor-Maurice-Fievet-12
Champa cướp phá Ankor
Đến năm 1081, Jaya Indravarman II lên thay ngôi, nhưng không lâu bị Pâng cướp ngôi lên làm vua lấy hiệu là Sri Paramabodhisatva (trị vì từ năm 1081 – 1086). Tình hình Champa lúc này tương đối ổn định, và nuôi ý định cướp lại ba châu đã mất từ tay Đại Việt.
Tình trạng hòa, đánh với Đại Việt và Chân Lạp của Champa có lẽ kéo dài suốt giai đoạn này. Hai đời vua tiếp theo là Harivarman V và Indravarman III đã giữ được mối quan hệ hòa hảo với Đại Việt. Sự phức tạp trong quan hệ đối ngoại của Champa vẫn là xoay quanh hai nước Đại Việt và Chân Lạp, có lẽ chỉ cần nói sơ qua như ở trên.
Điều quan trọng nhất phải nói về quá trình thống nhất của nó. Nhưng cũng phải kể đến những tác động đến từ hai nước láng giềng của Champa.
Vào các năm 1166 và 1170, miền Nam một lần nữa nổi dậy, và một lần nữa nổ ra nội chiến, mà có sự can thiệp của cả Đại Việt và Chân Lạp. Tuy nhiên chính việc Chân Lạp đánh Champa 1181, sau đó giành thắng lợi và chia cắt Champa làm hai miền vào năm 1190: miền Bắc – Vijaya do Jayavarman VII nắm quyền, miền Nam là vùng Panduranga do hoàng thân Vidianandana cai trị. Sau mấy năm rối ren chính trị tiểu quốc miền Nam đã thống nhất được toàn bộ Champa và Suryavarmadeva – Vidianandana lên nắm quyền. Lúc này để tránh phiền phức ông đã cắt đứt quan hệ với Chân Lạp và có phần hòa hảo với Đại Việt. Nhưng sau khi Dhanapatigrama – chú của Suryavarmadeva lên ngôi, Champa bị lệ thuộc và trở thành một tỉnh của Chân Lạp.
Tóm lại, nếu đi theo tiến trình để hiểu rõ quá trình thống nhất Champa thì hơi khó hiểu, nên có thể tóm gọn lại như sau. Sự thống nhất của Champa lúc này cao hơn giai đoạn trước. Biểu hiện cụ thể trước tiên là việc kinh đô Vijaya được chọn đặt tại nới trung tâm Champa, tiếp đó là dựng nên một truyền thuyết về tộc Dừa và Cau đại diện cho Nam Bắc, và hàng loạt các đền tháp được xây dựng ở phía Nam nhằm củng cố thần quyền và vương quyền của vua. Sự thống nhất đã mở đầu cho thời kỳ thịnh đạt của Champa giai đoạn sau.
2.1.2 Thời kì thịnh đạt của Champa (1220 – 1353).
Sau khi bị Chân Lạp chiếm đóng, năm 1220 họ không một lí do đã rút khỏi Chân Lạp, nhưng cũng không quên lập nên một chính quyền thân Ăngko, đứng đầu là Jaya Paramesvaraman II. Suốt thời gian trị vì của mình từ năm 1220 – 1252, ông theo đuổi 2 chính sách: khôi phục kinh tế và giữ thái độ kì thị với Đại Việt.
Về kinh tế, ông cho khẩn hoang đất đai, mở rộng đất canh tác, phát triển hệ thống thủy lợi. Đó là những biện pháp nhằm phục hồi kinh tế sau hàng chục năm bị chiến tranh tàn phá, nhưng cái tập trung lớn nhất lại vào nông nghiệp thì chỉ đưa đến kết quả là ổn định chứ chưa gọi đúng từ phát triển.
Về chính trị và đối ngoại, do là một chính quyền thân Ăngko ngay từ đầu có lẽ Champa ngã hẳn về phía Chân Lạp, có lẽ cũng từ đó mà đối đầu với Đại Việt. Trong quan hệ với Chân Lạp rõ ràng như vậy, nhưng đối với Đại Việt có lẽ còn bắt nguồn từ việc bị mất 3 châu ở phía Bắc trước kia, cùng với thời điểm nhân nhà Lý suy yếu đã tiến hành cướp phá. Nhưng khi mà Chân Lạp cũng suy yếu, chính sách đối ngoại của Champa vẫn là đối đầu với Đại Việt có lẽ là vì muốn mở rộng lãnh thổ.
Thời đại của Jaya Paramesvaraman II tồn tại có một vai trò nhất định của nó, đó là ổn định đất nước sau chiến tranh, để đến khi Indravarman VI lên ngôi vụt dậy và nâng tầm Champa.
Điều trước tiên khi lên ngôi là ông đã đi thăm Nam Champa, và thu được những thắng lợi, đó là sự yên ổn tại vùng Panduranga. Suốt thời gian cai trị từ năm 1265 – 1285 đã mang đến cảnh thái bình, thịnh vượng cho Champa.
Lúc này Champa không còn lo ngại và thoát dần ảnh hưởng của một Chân lạp đang tác đó là chiến thắng trước sự xâm lược của quân Nguyên (1283 – 1284), đó là sự đoàn kết lớn lao và gắn bó thân thiết của hai nước.
Sau thời đại này là thời phát triển thịnh vượn của Champa, mà ông vua có công lớn nhất là Chế Mân – Jaya Sinhavarman IV trị vì từ năm 1285 đến năm 1305. Chế Mân đã tiếp tục những chính sách của vua cha và đưa Champa đến thời huy hoàng. Biểu hiện rõ nhất là lần mở rộng lãnh thổ về phía Tây lên miền thượng nguyên – lưu vực sông Đà Rằng và Sre Pốc. Thứ hai, thương nghiệp được phát triển với việc mở lại các cảng thị mà quan trọng nhất là cảng Tini – Thilibinai. Bên cạnh phát triển về thương nghiệp và mở rộng lãnh thổ nhân dân Champa lại một lần nữa đối đầu với quân Nguyên, nhưng bằng chính sách ngoại giao mềm dẻo của Chế Mân cuộc xâm lược đã không diễn ra. Trong khi đó đối với Đại Việt, mối quan hệ lại được tiếp tục phát triển mà việc công chúa Huyền Trân, con Trần Nhân Tông được gả cho Chế Mân là biểu hiện rõ nhất. Người Champa chịu mất châu Ô và châu Lý để đổi lại sự ổn định cơ bản để phát triển đất nước, đó là mọt lựa chọn thông minh. Tuy về sau có một chút hiềm khích nhưng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước vẫn cố được duy trì.
Như vậy với những điều nêu trên có thể khẳng định đây là giai đoạn thịnh vượn nhất của vương quốc Champa sau mấy thế kỉ bất ổn về chính trị.
2.1.3 Thời kì khủng hoảng và suy vong từ giữa thế kỉ XIV.
Sự khủng hoảng bắt đâu vào những năm 1353 sau vua Trà Hoa Bố, qua tám đời vua, đến năm 1471.
Có lẽ không cần đi vào tiến trình lịch sử một cách cụ thể giai đoạn này, điều cần thiết là chỉ ra đâu là nguyên nhân đẩy một Champa đang ổn định và phát triển trước đó đi đến bờ dần dần của sự tàn lụi.
Dấu mốc của sự sụp đổ có lẽ là nằm ở những gì ông vua Chế Bồng Nga (Po Binnosuor) khoảng từ năm 1328 đến năm 1373. Lúc này, quan hệ ngoại giao của Champa có sự thay đổi đột ngột, đi từ thân thiết sang đối đầu với Đại Việt. Chế Bồng Nga ra sức xây dựng quân đội, dồn tất cả nguồn lực cho hàng chục cuộc tiến công lên hướng Bắc. Trong 30 năm đã tiến hành trên 15 trận đánh lớn, và có khi chỉ trong 8 năm năm nào cũng đánh, có hai lần đến tận Thăng Long cướp phá, và trở về, lúc này ở Đại Việt đang là lúc mà nhà Trần suy yếu. Nguyên nhân mà Champa đột ngột thay đổi chiến lược ngoại giao của mình có lẽ là do “mấy chục năm thái bình và phong túc, nên tưởng là mình mạnh”[6]. Chính việc gây chiến liên miên mà làm cho đất nước kiệt quệ không chỉ ở kinh tế mà còn khủng hoảng sâu sắc trong nội bộ, sự phản đối của quần chúng là một phần làm cho Champa dần dần suy yếu và cái chết của Chế Bồng Nga.
Nhưng cái chết của ông không phải là dấu chấm hết trực tiếp của Champa, mà chính những chính sách độc đoán của mình.
Sau giai đoạn của Chế Bồng Nga, đến sau năm 1471 Champa không còn giữ được vai trò lịch sử của nó nữa. Tuy còn tên nước, còn một thể chế ở miền Nam, nhưng thật sự đó chỉ mang tính chất địa phương – một chính quyền thu hẹp đúng nghĩa. Sự kiệt quệ về nhiều mặt kinh tế, văn hóa còn tiếp tục đến cuối trung đại theo một đường tuột dốc khi không bắt kịp những thành tựu mới của “làn sóng văn minh thứ Hai”

..
còn tiếp .

- Tài Liệu copy- 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Post Bottom Ad

Responsive Ads Here

Pages